Menu

Hình ảnh

Tiểu sử Nguyễn Nhữ Lãm

Thứ năm - 28/02/2013 20:59
Tiểu sử Nguyễn Nhữ Lãm
Nguyễn Lỗi là con trai đầu, tứ quốc tính là Lê Lỗi, nay là dòng trưởng tại Thọ Xuân Thanh Hoá. Đời vua Thiệu Bình phong: sĩ chí suy trung tán tri kiêm cung tuyên lực công thần, đặc tiến kim tử, vinh lộc đại phu, bình chương quân quốc trạng sư, nhập nội từ đồ phò mã, ...
Tiểu sử và sự nghiệp
 
Trong khởi nghĩa Lam Sơn
 
Nguyễn Nhữ Lãm quê ở xã Văn Xá huyện Thanh Liêm, phủ Lý Nhân, đạo Sơn Nam (nay là xã Thiên Liệu, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam).
 
Trong hoàn cảnh nước Đại Ngu bị quân Minh chiếm đóng, ông gia nhập lực lượng của Lê Lợi và dự hội thề Lũng Nhai năm 1416[1]. Năm 1418, ông trong số những người tham gia khởi nghĩa Lam Sơn cùng Lê Lợi từ những ngày đầu, phụ trách việc rèn vũ khí và quân lương của nghĩa quân.
 
Trong khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Nhữ Lãm từng làm sứ giả tới các nước Ai Lao (Lào), Chiêm Thành vận động vua nước láng giềng giúp voi ngựa và lương thực. Nhờ tài ngoại giao của ông, các nước đã đồng tình giúp đỡ.

Thời Hậu Lê
 
Tháng 4 năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi lên ngôi vua, tức là Lê Thái Tổ. Năm 1429, Lê Thái Tổ xét công ban thưởng cho các tướng lĩnh có công. Nguyễn Nhữ Lãm được ban quốc tính (mang dòng họ của vua) là Lê Nhữ Lãm, Vinh thăng Suy trung phụ quốc công thần nhập nội thượng thư lệnh, Kiểm giáo Thái bảo Đình thượng hầu[2].
 
Tháng giêng năm Thuận Thiên thứ tư (1431), vua Lê Thái Tổ cử Nguyễn Nhữ Lãm làm chánh sứ cùng phó chánh sứ là lại bộ thượng thư Hà Lật và Lê Bính sang Trung Quốc để đàm phán. Trong mặt trận ngoại giao này, nhờ tài hùng biện khôn khéo tạo được tình hoà hiếu của Nguyễn Nhữ Lãm, vua Minh Tuyên Tông đã bỏ ý định khôi phục nhà Trần, công nhận vương triều nhà Lê, phong cho Lê Lợi làm “Quyền thư An Nam quốc sự”[3].
 
Nhờ những công lao, ngày 14 tháng 8 năm Thuận Thiên thứ sáu (1433), vua phong cho Nguyễn Nhữ Lãm chữ “Mậu” (có nghĩa là xanh, tốt). Từ đó con cái ông mang dòng họ Nguyễn Mậu.
 
Ngày 21 tháng 8 năm Quý Sửu (1433), Lê Thái Tổ băng hà, con là Lê Long Nguyên mới 11 tuổi lên nối ngôi, tức vua Lê Thái Tông. Lúc này, Nguyễn Nhữ Lãm đang giữ chức hữu bộc xã (một chức chính trị của các quan đại thần tương đương tể tướng). Tháng 9 năm Thiệu Bình thứ nhất (1434), Nguyễn Nhữ Lãm được vua Thái Tông giao thiết kế xây dựng lăng thái miếu thờ thái hậu[4].
 
Nguyễn Nhữ Lãm mất ngày 23 tháng 5 năm Đinh Tỵ (1437) hưởng thọ 60 tuổi. Mộ lúc mất đặt tại làng Ngọc Lịch (nay là xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa).
 
Đến năm Cảnh Hưng thứ 10 năm Kỷ Tỵ (1749), tháng 8 năm đó lụt ở sông Lương Giang lở đất. Vua Lê Hiển Tông sai Nguyễn Khâm Thuận tìm đất cát táng tại gò Mã Lăng, làng Trung Lập huyện Thiệu Nguyên phủ Thiệu Hoá (nay là xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân). Phần mộ hai ông bà hợp táng làm một ngôi.

Các con
 
Nguyễn Nhữ Lãm sinh hạ được 3 người con trai và 1 con gái:
 
Nguyễn Lỗi là con trai đầu, tứ quốc tính là Lê Lỗi, nay là dòng trưởng tại Thọ Xuân Thanh Hoá. Đời vua Thiệu Bình phong: sĩ chí suy trung tán tri kiêm cung tuyên lực công thần, đặc tiến kim tử, vinh lộc đại phu, bình chương quân quốc trạng sư, nhập nội từ đồ phò mã, đô uý thái phó thanh quận công, Nguyễn tướng công, tứ thuỵ giản tinh; Mất ngày 25 tháng 2. Vợ Nguyễn Lỗi là con đầu của vua Lê Thái Tông, hiệu là Yên Quốc, quốc trưởng công chúa, tên uý là Minh Tú, mất ngày mồng 6 tháng giêng.

Nguyễn Quang Phục: con trai thứ 2, chức đô chỉ huy đồng tri, trấn nam đại tướng quân, tước thái bảo bổng lộc quận công, quản lĩnh Hoan Châu (Nghệ An, Hà Tĩnh), tục hiệu là

Hộ Ngoại lang. ông sinh được 3 người con trai:
  • Nguyễn Đình Liên
  • Nguyễn Đình Triều.
  • Nguyễn Đình Kiêm (tức Nguyễn Mậu Tâm)
  • Nguyễn Quang Lộc (con trai thứ 3) chức An Lạc đại tướng quân, đô đốc thuỷ bộ chư dinh, trấn đông tướng quân, tước Thái Bảo lương quân công, con cháu nay ở xã Quảng Lộc, Quảng Xương, Thanh Hoá.
  • Nguyễn Thị Ngọc Chi, gả cho con trai thứ hai của Định Quốc Công.
Hiện nay, tên của ông được đặt cho một con đường ở quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

 
Copyright © 2012 www.nguyenmauquangngai.com. All Rights Reserved.Design by PDG