Menu

Hình ảnh

Gia phả Nguyễn Mậu

Thứ sáu - 23/11/2012 20:50
Gia phả Nguyễn Mậu
Người xưa nói: “Nhân chi các hữu tổ như mộc chi hữu bản, thuỷ chi hữu nguyên” tức là: “Con người có tổ tiên như cây có gốc, nước có nguồn”. Gia phả là cuốn sổ ghi lại sự phát sinh của dòng họ từ đời tiên tổ cho đến hậu duệ các đời tiếp theo. Nhờ các bậc tiền bối ghi lại, nếu không con cháu đời nay làm sao biết được tổ tiên mình.
Đức tiên tổ dòng họ Nguyễn Mậu là Nguyễn Nhữ Lãm, thân phụ của ngài là Nguyễn Công Thân. Đức tổ sinh năm Mậu Ngọ (1378) tại xã Văn Xá huyện Thanh Liêm, Phủ Lý Nhân, đạo Sơn Nam (nay là xã Thiên Liệu, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam). Ông Nguyễn Công Thân gia đình giàu có, ông thì hay đánh cờ, cao cờ có tiếng. Bà thì lòng từ thiện hay giúp đỡ người nghèo khó. Ông đậu tiến sĩ, quan phò mã cuối đời nhà Trần, sau phong huyện hầu. Ngoài bốn mươi tuổi vẫn chưa có con. Ông thường hay du ngoạn đây đó. Một ngày đẹp trời cuối mùa xuân, ông lên chơi trên núi Thiên Kiện thấy hai cụ già đang đánh cờ trên bàn đá giữa lưng đồi. Ông đứng xem hồi lâu, một cụ già ngẩng đầu lên thấy ông liền hỏi: “Mầy ở đâu tới, tên họ là gì?”. Ông khiêm tốn trả lời tên họ quê quán. Cụ già hỏi tiếp: “Vợ con thế nào rồi?”. Ông bèn trả lời: “Thưa, chưa có con”. Cụ già liền nói rằng: “Ta nghe nói mầy cao cờ có tiếng, hãy cùng ta đánh ván chơi, hễ thắng ta được mấy ván thì ta cho mầy mấy đứa con”. Ông bước vào chơi với cụ già cuối ngày chỉ chơi được một ván, phần thắng nghiên về ông. Rồi ông xin cáo từ ra về. Cụ già liền lấy trong túi ra một chiếc khăn màu vàng, điền chữ vào đó tặng ông và dặn rằng: “Khi nào sinh con mới được mở ra xem. Ông chưa kịp cảm ơn thì hai cụ già đã biến đâu mất. Từ đó, bà Lê Thị Tịch có thai mạn kì sinh được một đứa con trai, ông mừng rỡ lấy khăn ra xem, thấy trong khăn đề tám chữ: Tứ nhữ nhất tử, nhữ cờ làm chi”, tức là: cho mày một đứa con tên là Nhữ Lãm.

Nguyễn Nhữ Lãm lớn lên, người cao to, đen, học hành thông minh có tài biện bác. Gặp lúc vận nước suy, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, trong khi lòng dân chưa thuận với nhà Hồ, thừa cơ, nhà Minh đem 50 vạn quân sang đánh Đại Việt ta, bắt được Hồ Quý Ly đem về Trung Quốc vào năm 1407. Vua Thánh Tổ nhà Minh đổi tên Đại Việt thành quận Giao Chỉ, xem như một quận của nhà Minh.

Hồi bấy giờ, ở đất Lam Sơn, Thanh Hóa có bậc hiền tài là Lê Lợi đang chiêu binh tụ nghĩa để đánh quân Minh. Ngài (Nhữ Lãm) được tin đem gia đình, vợ con và người hầu vào trú tại Đa Mỹ phường Cổ Lôi huyện (đến đời nhà Lê đổi thành xã Thịnh Mỹ huyện Lôi Dương trấn Thanh Hoa, nay là xã Thọ Diên huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hoá) chiêu mộ ngư dân sông Lôi Giang (sông Mã) và sông Lương Giang (sông Chu) làm thuộc hạ vừa khai hoang vừa trau dồi binh nghiệp. Khi có đội quân tinh nhuệ, giờ Mùi (khoảng 2 giờ chiều) ông đến gặp Lê Lợi xin tụ nghĩa. Được Lê Lợi chấp thuận và giao nhiều trọng trách chỉ huy xưởng rèn vũ khí và phụ trách quân lương.

Lúc bấy giờ ở làng Hào Lương (nay là xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân) có tên Đỗ Phúc thù oán với Lê Lợi, dẫn đường cho giặc tới đào mộ phụ thân và bắt vợ con Lê Lợi để buộc Lê Lợi phải đầu hàng. (Bà Trần Thị Ngọc là vợ của Lê Lợi lúc đó phụ trách quân lương).

Nhờ có dân chài mật báo nên biết được bộ hài cốt treo sau thuyền giặc, Lê Lợi vô cùng lo lắng nhưng phải chờ đến nước hoa mơ (lụt tiểu mãn) mới tìm cách lấy về. Đợt lụt năm đó, Nhữ Lãm, Trịnh Khả, Lê Văn An, Võ Uy, Trương Lôi, Lê Sao dùng thuyền giả làm dân chài trên sông đến gần thuyền giặc. Đang đêm, Nhữ Lãm đội cỏ trền đầu bơi tới thuyền giặc, lấy được hài cốt của thân phụ Lê Lợi đem về táng ở động Chiếu Nghi ( truyền thuyết kể rằng, một hôm có một người nông dân lên đốn củi trên vùng đó thấy một cụ già râu tóc bạc phơ đang dạo ngắm cảnh và nói một mình rằng: huyệt đất này là phát đế vương, hình quốc ấn, trọng trách chưa biết giao cho ai. Người nông dân đến gặp cụ và nói cho con xin. Cụ già không nói gì rồi biến mất. Người nông dân về kể lại với Đức Tổ Nhữ Lãm và Nhữ Lãm kể lại với Lê Lợi. Hôm sau, Lê Lợi đến vùng đó cầu xin, cụ già hiện ra và chỉ cho huyệt đất. Sau khi lấy được hài cốt thân phụ về mới đem táng tại nơi đó, tức động Chiếu Nghi). Ngày mồng 2 tháng giêng năm Mậu Tuất (1418), tại rừng núi Lam Sơn, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa và xưng là Bình Định Vương. Cuộc kháng chiến với quân Minh tại Lam Sơn đến ngày 16 tháng giêng năm đó thì bị phản thần tên là Ái dẫn đường truy đuổi Lê Lợi đến chỗ nguy khốn. Nhờ ngài Nhữ Lãm, Lê Lệ, Lê Vấn bảo vệ tìm đường tắt đưa được Lê Lợi đến núi Linh Sơn. Lúc bấy giờ, giữa tháng ba, quân sĩ hết lương thực, ngài Nhữ Lãm ban đêm tìm đường về Đa Mỹ phường vận động dân giúp gạo muối, dùng thuyền ngư dân đưa tới Linh Sơn cho nghĩa quân. Quân sĩ Lê Lợi phải chuyển qua nhiều địa điểm như Măng Thôi tới Măng Ứng ngày 24 tháng 11 năm Nhâm Dần (1422), quân Lê Lợi bị địch bao vây tại khai Ná Sách. Nhờ Nhữ Lãm tìm được đường tắt bí mật chuyển về Thuý Khối Sách, xuất kị binh buộc địch phải đại bại. Lúc nầy, nghĩa binh lại bị cạn kiệt về lương thực, Lê Lợi phải dùng rau rừng và giết voi ngựa để nuôi quân sĩ. Một lần nữa, Đức tổ Nhữ Lãm lại tiếp tục vận động được lương thực lên cho quân sĩ.

Một trận đấu giòn giã ngày 20 tháng 9 năm Giáp Thìn (1424) buộc giặc Minh phải đầu hàng trở về bắc quốc.Tháng 4 năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi lên ngôi đặt niên hiệu là Thuận Thiên. Ngài xét công ban thưởng cho đức tổ Nhữ Lãm: đặc tứ quốc tính (mang dòng họ của vua): Lê Nhữ Lãm, Vinh thăng suy trung phụ quốc công thần nhập nội thượng thư lệnh, kiểm giáo thái bảo đình huyện hầu và thưởng ruộng đất từ chân núi đến Lê Kiều. Ngài là một trong 51 tướng sĩ văn võ được Lê Lợi ban thưởng danh hiệu “Khai quốc công thần”.

Trong cuộc kháng chiến với quân Minh, ngài từng làm sứ giả tới các nước Ai Lao (Lào), Chiêm Thành (từ Quảng Bình trở vào) vận động vua nước bạn giúp voi ngựa và lương thực. Nhờ tài ngoại giao, các nước đã đồng tình giúp đỡ. Mặc dù đã thắng lợi hoàn toàn nhưng hàng năm Lê Lợi vẫn cống nạp để giữ tình hoà hiếu, tránh sự hận thù gây lại chiến tranh. Tháng giêng năm Thuận Thiên thứ tư (1431), vua Lê Thái Tổ cử ngài Nhữ Lãm làm chánh sứ cùng phó chánh sứ là lại bộ thượng thư Hà Lật và Lê Bính sang Trung Quốc để đàm phán. Trong mặt trận ngoại giao này, nhờ tài hùng biện khôn khéo tạo được tình hoà hiếu của Nhữ Lãm, vua Minh đã bỏ ý đồ khôi phục nhà Trần, công nhận vương triều nhà Lê, phong cho Lê Lợi “Quyền thư An Nam quốc sự”.

Nhờ những công lao to lớn, ngày 14 tháng 8 năm Thuận Thiên thứ sáu (1433), vua phong cho ngài Nhữ Lãm chữ “Mậu”. Từ đó con cái ngài mang dòng họ Nguyễn Mậu.
Ngày 25 tháng 8 năm Quý Sửu (1433), Lê Lợi băng hà, con là Lê Long Nguyên lên nối ngôi, tức vua Lê Thái Tông mới 11 tuổi, công việc triều chính trông cậy vào các đại thần. Lúc này, ngài Nhữ Lãm đang giữ chức hữu bộc xã (một chức chính trị của các quan đại thần tương đương tể tướng). Tháng 9 năm Thiệu Bình thứ nhất (1434), ngài Nhữ Lãm được vua giao thiết kế xây dựng lăng thái miếu thờ thái hậu.

Chức vụ của ngài Nhữ Lãm đương thời là sĩ chí suy trung phụ quốc công thần, đặc tiến kim tử, vinh lộc đại phu nhập nội thị sảnh, đô tri thượng thư lệnh, thái bảo thức quận công, Nguyễn tướng công, phụ tứ quốc tính, Lê tướng công, tăng thức quốc công tứ thuỵ trung tính.

Ngài mất ngày 23 tháng 5 năm Đinh Tỵ (1437) hưởng thọ 60 tuổi. Mộ lúc mất đặt tại làng Ngọc Lịch (nay là xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân). Đến năm Cảnh Hưng thứ 10 năm Kỷ Tỵ (1749), tháng 8 năm đó lụt ở sông Lương Giang lở đất. Tộc trưởng Nguyễn Mậu Cử đêm nằm mộng thấy có người bảo ngày mai không được đi đâu có việc. Sáng hôm sau có một người làng Ngọc Lịch tới bảo với Mậu Cử, phần mộ bị lụt xói mòn đất lòi thành quách họ có người làm quan chức. “Luân trung công” đem việc đó tâu với vua. Vua sai Nguyễn Khâm Thuận tìm đất cát táng tại gò Mã Lăng, làng Trung Lập huyện Thiệu Nguyên phủ Thiệu Hoá (nay là xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân). Phần mộ hai ông bà hợp táng làm một ngôi.

Phu nhân là bà Phan Thị A, quê quán xã Phúc Lộc, huyện Vệ Nghĩa, phủ Tân Bình, mất ngày mồng 2 tháng 10.
Chính thất: Phan Thị Thu mất ngày 14 tháng 3.
Ông bà sinh được 3 người con trai và một người con gái:

1. Nguyễn Lỗi là con trai đầu, tứ quốc tính là Lê Lỗi, nay là dòng trưởng tại Thọ Xuân Thanh Hoá. Đời vua Thiệu Bình phong: sĩ chí suy trung tán tri kiêm cung tuyên lực công thần, đặc tiến kim tử, vinh lộc đại phu, bình chương quân quốc trạng sư, nhập nội từ đồ phò mã, đô uý thái phó thanh quận công, Nguyễn tướng công, tứ thuỵ giản tinh; Mất ngày 25 tháng 2.
Vợ là con đầu của vua Lê Thái Tông, hiệu là Yên Quốc, quốc trưởng công chúa, tên uý là Minh Tú, mất ngày mồng 6 tháng giêng.

2. Nguyễn Quang Phục: con trai thứ 2, chức đô chỉ huy đồng tri, trấn nam đại tướng quân, tước thái bảo bổng lộc quận công, quản lĩnh Hoan Châu (Nghệ An, Hà Tĩnh), tục hiệu là Hộ Ngoại lang. ông sinh được 3 người con trai:
- Nguyễn Đình Liên
- Nguyễn Đình Triều.
- Nguyễn Đình Kiêm (tức Mậu Tâm)

3. Nguyễn Quang Lộc (con trai thứ 3) chức An Lạc đại tướng quân, đô đốc thuỷ bộ chư dinh, trấn đông tướng quân, tước Thái Bảo lương quân công, con cháu nay ở xã Quảng Lộc, Quảng Xương, Thanh Hoá.

4. Nguyễn Thị Ngọc Chi, gả cho con trai thứ hai của Định Quốc Công.
 
Copyright © 2012 www.nguyenmauquangngai.com. All Rights Reserved.Design by PDG